Home Báo Economist Berlin đã trở thành trung tâm nguồn vốn đầu tư mạo hiểm

Berlin đã trở thành trung tâm nguồn vốn đầu tư mạo hiểm

by Hằng Nguyễn

How Berlin has become a centre for European venture capital

Berlin đã trở thành trung tâm nguồn vốn đầu tư mạo hiểm như thế nào

Once edgy, the tech scene is in danger of going mainstream

Một khi gay gắt, bối cảnh công nghệ có nguy cơ trở thành xu hướng chủ đạo

For brits of a certain age and inclination, Berlin is a city that is forever linked with David Bowie. When he lived there in the late 1970s, Bowie’s life was in flux1. He was estranged from his wife, splitting from his management and trying to slough off rock-star excess. Berlin was similarly unsettled: a refuge for artists, misfits2 and draft-dodgers on the front line of the Cold War. Bowie lived anonymously above a car-parts store. He did some of his best work there.

Đối với những người Anh quốc có tuổi đời và một khuynh hướng nhất định, Berlin là một thành phố luôn gắn bó với tên tuổi của David Bowie. Cuối những năm 1970, cuộc sống của Bowie rơi vào trạng thái bất ổn.  Ông bị vợ ghẻ lạnh khi bà tách khỏi sự quản lý của ông và cố gắng sa thải ngôi sao nhạc rock. Berlin cũng bất ổn tương tự: đây là nơi ẩn náu cho các nghệ sĩ, những người lầm lạc và những kẻ trốn chạy trên tuyến đầu của Chiến tranh Lạnh. Bowie sống ẩn danh bên trên một cửa hàng phụ tùng xe hơi. Cũng ở chính nơi này ông đã tạo ra những tác phẩm tuyệt nhất cuộc đời mình.

How Berlin has become a centre for European venture capital

The block of flats where Bowie lived with Iggy Pop, another celebrated rock star, still stands. Berlin remains an edgy, in-between sort of place—it is Germany’s capital, but is not quite German. And it remains a place where people go to try something new. It now vies with London and Paris as Europe’s leading hub3 for technology startups4.

Khu căn hộ nơi Bowie sống cùng Iggy Pop, một ngôi sao nhạc rock nổi tiếng khác, vẫn còn nguyên. Tình hình Berlin vẫn còn căng thẳng. Nó là khu trung lập- là thủ đô của Đức, nhưng không hoàn toàn thuộc về Đức. Đó vẫn là một nơi mà mọi người đến để thử một cái gì đó mới mẻ, hiện cùng với London và Paris là trung tâm hàng đầu của châu Âu cho các công ty khởi nghiệp về công nghệ.

That seemed unlikely a decade ago. Berlin had no real industrial base. Its early venture-backed5 successes were often knock-offs of American e-commerce firms. Risk capital was scarce. Berlin had no vast ranks of home-grown techies. In a strange way, these and other deficiencies have been strengths. For Berlin has no competing hierarchy for all-important status. Paris has fashion and food. London has famous musicians. In Berlin, the venture capitalists (vcs) and entrepreneurs are the rock stars.

Một thập kỉ trước, điều đó dường như không thể xảy ra. Berlin không có cơ sở công nghiệp thực sự. Những thành công từ sự hỗ trợ của đầu tư mạo hiểm thường là việc đánh bật các công ty thương mại điện tử của Mỹ. Vốn rủi ro khan hiếm. Berlin lại không có hàng ngũ công nghệ của chính họ. Kỳ lạ thay, khuyết điểm này cộng với những điểm yếu khác lại tạo thành điểm mạnh vì Berlin không có hệ thống phân cấp mang tính cạnh tranh cho một vị thế quan trọng. Paris có thời trang và ẩm thực. London có những nhạc sĩ nổi tiếng. Ở Berlin, nhà đầu tư mạo hiểm (vcs) và doanh nhân là những ngôi sao nhạc rock.

Berlin’s vc scene emerged in the years following the global financial crisis of 2007-09. The city had three things to recommend it. First, it was cheap. Berlin was a poor capital city by the standards of Western Europe. The only competing industry was government. So housing and office space were plentiful. If you were part of the early wave of startups that settled in the city, you might be offered office space rent-free for several months. Second, it was hip6. There were lots of cheap, cool places to eat and to meet others. Part of the allure was Berlin’s history as a bolthole for creative types, such as Bowie and Iggy.

Bối cảnh đầu tư mạo hiểm ở Berlin nổi lên trong những năm sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-09. Thành phố có ba điểm thu hút. Đầu tiên, giá cả rất rẻ. Berlin là một thủ đô nghèo theo tiêu chuẩn của Tây Âu. Khối ngành cạnh tranh duy nhất là chính phủ. Vì vậy, nhà ở và văn phòng rất nhiều. Nếu bạn là một phần của làn sóng khởi nghiệp sớm định cư tại thành phố, bạn có thể được thuê văn phòng miễn phí trong vài tháng. Thứ hai, đó là kế hoạch thu nhập từ nhà ở. Có rất nhiều địa điểm rẻ, thú vị để ăn uống và gặp gỡ những người khác. Một phần sức hút chính là lịch sử của Berlin đóng vai trò như một điểm nhấn cho các sự sáng tạo, chẳng hạn như Bowie và Iggy.

A third factor is that Germany is welcoming to migrants. Berlin has always been a cultural melting pot7. High youth unemployment in southern Europe in the wake of the euro area’s debt crisis was a spur to migration. A lot of engineers came from Eastern Europe. The Swedish founders of SoundCloud, a music-streaming site to which independent artists upload their output, based their company in Berlin, despite a vibrant scene in Stockholm. Often the working language is English; but it might be Russian or Portuguese. Plenty of people have poured in from other German cities, too. That reflects a cultural shift. A talented engineer who used to go to work for bmw or Mercedes now thinks about starting a company, says Ciaran O’Leary of BlueYard, a Berlin-based venture-capital firm.

Yếu tố thứ ba là Đức đang chào đón người di cư. Berlin luôn là nơi hội tụ của nhiều chủng tộc và văn hóa. Tỷ lệ thất nghiệp cao ở độ tuổi thanh niên ở Nam Âu trong bối cảnh cuộc khủng hoảng nợ của khu vực đồng euro là động lực thúc đẩy di cư. Rất nhiều kỹ sư đến từ Đông Âu. Những người sáng lập SoundCloud người thụy điển, một trang web phát nhạc trực tuyến nơi các nghệ sĩ solo tải lên tác phẩm của họ, đã đặt trụ sở công ty ở Berlin, bất chấp bối cảnh sôi động ở Stockholm. Thường thì ngôn ngữ làm việc là tiếng Anh; nhưng nó cũng có thể là tiếng Nga hoặc tiếng Bồ Đào Nha. Nhiều người cũng đổ về từ các thành phố khác ở Đức. Điều này đã phản ánh một sự chuyển dịch văn hóa. Ciaran O’Leary của BlueYard, một công ty đầu tư mạo hiểm có trụ sở tại Berlin, cho biết một kỹ sư tài năng từng làm việc cho bmw hay Mercedes hiện đang nghĩ đến việc thành lập công ty.

Xem tiếp tại link: https://www.economist.com/finance-and-economics/2020/10/22/how-berlin-has-become-a-centre-for-european-venture-capital

NEW WORDS:

1. Be in flux: UK /flʌks/ US  /flʌks/ rơi vào trạng thái bất ổn

Ex: Well, all of our perform plans are in flux now that Nina’s broken her leg. Tất cả các kế hoạch biểu diễn của chúng tôi đều đang bị rối lên bởi vì chân của Nina bị gãy.

2. Misfit: UK /ˈmɪs.fɪt/ US  /ˈmɪs.fɪt/  người lầm lạc, người lạc loài

Ex: I didn’t really know anyone at the party, so I felt like a misfit. Tôi không biết bất kì ai ở trong bữa tiệc, vì vậy tôi cảm thấy mình như một người lạc loài.

3. Hub: UK /hʌb/ US  /hʌb/ trung tâm

Ex: The City of London is the hub of the UK’s financial world.

Thành phố Luân Đôn là trung tâm của thế giới tài chính Vương quốc Anh.

4. Start-up: UK /ˈstɑːt.ʌp/ US  /ˈstɑːrt.ʌp/ khởi nghiệp, công ty khởi nghiệp.

Ex: He transformed the business from a start-up into one of the world’s biggest mobile phone companies. Ông ấy đã chuyển đổi doanh nghiệp từ một công ty khởi nghiệp thành một trong những công ty điện thoại di động lớn nhất thế giới.

5. Hip: UK  /hɪp/ US  /hɪp/ kế hoạch thu thập tại nhà.

Ex: My group decided make hip because the weather was not good. Chúng tôi quyết định  thực hiện kế hoạch này tại nhà vì thời tiết không tốt.

6. Melting pot: UK /ˈmel.tɪŋ ˌpɒt/ US  /ˈmel.t̬ɪŋ ˌpɑːt/: sự hỗn hợp nhiều chủng tộc và văn hóa khác nhau

Ex: Berlin has always been a cultural melting pot. Berlin luôn là nơi hội tụ của nhiều chủng tộc và văn hóa.

7. Venture-backed: đầu tư hỗ trợ

Ex: The company is venture-backed and has raised $96 million to date.

Công ty được đầu tư mạo hiểm và đã huy động được 96 triệu đô la cho đến nay.

Luyện Tập+

You may also like

Leave a Comment